Ông Hữu Thỉnh: Nhà nước vẫn nuôi anh em chúng ta!

Ông Hữu Thỉnh: Nhà nước vẫn nuôi anh em chúng ta!,

Ông Hữu Thỉnh: Nhà nước vẫn nuôi anh em chúng ta! - Ảnh 1.

Ông Hữu Thỉnh nói bỏ bao cấp cho các hội văn học nghệ thuật là Nhà nước mất đi đội quân 4 vạn chiến sĩ canh giữ mặt trận văn hóa tư tưởng của đất nước – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Như thường lệ, người đứng đầu Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trong sáng nay đã có một bài phát biểu rất “hùng hồn” trước các “anh em” hội viên.

Ông Thỉnh nói năm 2018 là năm Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam gặt hái được nhiều thành công nhưng cũng là một năm nhiều thử thách. “Đất nước phát triển thuận lợi nhưng chúng ta thì khó khăn vô cùng, đến mức bị đặt vào tình thế “tồn tại hay không tồn tại”, ông Hữu Thỉnh nói.

Và nguyên nhân gieo rắc khó khăn cho Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam chính là đề án cải tiến phương thức hoạt động các hội văn học nghệ thuật của Bộ Nội vụ.

“Một đề án rất dày, công phu, nhưng tựu chung lại chỉ có mấy chữ thôi: tự nguyện, tự chịu trách nhiệm, tự trang trải. Nghĩa là chúng ta sẽ không có biên chế, trụ sở, không được hỗ trợ nữa.

Đề án đổi mới phương thức hoạt động mà chỉ tập trung vào mỗi vấn đề là xã hội hóa chứ không nói gì đến việc làm thế nào để phát huy tài năng của văn nghệ sĩ. Cả một giới tài năng thì không nói gì hết, chỉ nói cắt hỗ trợ. Thật gay go vô cùng”, ông Thỉnh nói.

Chủ tịch Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tâm sự với các anh em: “Không thể để cho giới văn học nghệ thuật của chúng ta tự trang trải được đâu. Bao thế hệ tài năng, hết lòng vì đất nước!”

Ông Hữu Thỉnh: Nhà nước vẫn nuôi anh em chúng ta! - Ảnh 2.

Giải thưởng văn học nghệ thuật năm 2018 chỉ có 1 giải A duy nhất cho Lò Văn Hợp với tác phẩm ảnh ‘Chung sức’ – Ảnh: THIÊN ĐIỂU

Ông Thỉnh cho rằng nếu Nhà nước quyết làm theo đề án này nghĩa là sẽ “biến đội quân sáng tạo tinh thần cho đất nước chỉ lo kiếm sống”.

Như vậy thì Nhà nước sẽ mất nhiều hơn được. Nhà nước chỉ tiết kiệm được 85 tỉ đồng mỗi năm nhưng lại mất đội quân 4 vạn người là những “chiến sĩ giữ vững trận địa văn hóa tư tưởng của đất nước”, “mất cả đội ngũ bao năm gắn bó với đất nước, với cách mạng và sáng tạo ra đời sống tinh thần cho nhân dân”.

“Đẩy 4 vạn văn nghệ sĩ cả nước đi chạy quảng cáo, xin tài trợ kiếm sống thì thời giờ đâu để trở thành chiến sĩ giữ vững trận địa văn hóa tư tưởng của đất nước”, ông Thỉnh nói.

Và ông cho biết ông cùng các lãnh đạo Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam đã kiên trì trình bày những trăn trở này với lãnh đạo cao nhất.

Và người đứng đầu Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam vui mừng báo tin sự kiên trì của ông đã được đền đáp.

Ông Thỉnh còn giải thích thêm rằng “Nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động thực chất là Nhà nước nuôi”. “Nhà nước nuôi anh em chúng ta”, ông Thỉnh vui .

Tại lễ tổng kết, Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam cũng trao giải thưởng văn học nghệ thuật năm 2018. Nhiều hạng mục không có giải A, giải B, nhưng ông Thỉnh nói mùa giải này không phải “mất mùa”, mà do ban tổ chức quyết định chấm giải một cách nghiêm túc, “không hạ chuẩn để đổi lấy phong trào”.

“Chúng tôi muốn giải thưởng này khuyến khích tài năng thật, không khuyến khích các giá trị trung bình, vô thưởng vô phạt kiểu phong trào”, ông Thỉnh nói.

Kết quả, Ban tổ chức đã trao 10 giải thưởng cho các tác giả là hội viên các hội văn học nghệ thuật chuyên ngành trung ương; giải thưởng cho các tác giả là hội viên các hội văn học nghệ thuật địa phương có 1 giải A, 7 giải B, 17 giải C và 26 giải khuyến khích, 4 giải tác giả trẻ.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Ông Hữu Thỉnh: Nhà nước vẫn nuôi anh em chúng ta!

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/ong-huu-thinh-nha-nuoc-van-nuoi-anh-em-chung-ta-20190109122848202.htm

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo: Mai sau tôi chết trong thơ…

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo: Mai sau tôi chết trong thơ…,

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo: Mai sau tôi chết trong thơ... - Ảnh 1.

Con người tài hoa ấy, Nguyễn Trọng Tạo, tôi có cảm giác là anh không hề oán giận ai. Lúc nào anh cũng thân thiện, chan hòa vui vẻ. Có thể do tính cách này mà anh trở nên quảng giao, kết thân nhiều bạn bè trong cả nước.

Năm 1995, khi ra Hà Nội theo học lớp biên tập văn bản khóa 1 tại Trường viết văn Nguyễn Du, tôi và anh Tạo cùng ở chung phòng. Tôi đi học, còn anh đi chơi, nhưng rồi cả hai cùng tá túc tại đây hàng tháng trời.

Có một ấn tượng khiến tôi nhớ mãi là mỗi sáng anh dậy rất sớm, mở mắt ra đã thấy anh lòm khòm trên chiếc chiếu trải ở sàn nhà. Viết và viết. Ngày nào cũng như ngày nào.

Sau đó, anh lại đi ngao du đâu đó, hễ lúc trời sụp tối, anh lại dẫn tôi đi thăm bạn bè của anh. Nhờ thế dù mới chân ướt chân ráo ra Hà Nội, qua anh, tôi đã làm quen được nhiều anh em văn nghệ là vậy.

Có lúc tôi hỏi nếu chọn lấy bài thơ nào thích nhất của anh, Nguyễn Trọng Tạo lại “đá giò lái” qua chuyện khác, đó là bài thơ… chưa hề được in báo, anh sáng tác lúc còn học trường làng. Đại khái, ban đầu đến với thơ, anh bảo là do yêu thích thơ Hàn Mặc Tử mà bắt chước làm theo.

Bài thơ đầu tay ấy như sau: “Bây giờ tôi dịu tôi hiền / Biết đâu tôi dại tôi điên bao giờ / Mai sau tôi chết trong thơ / Hay là thơ chết bên bờ hồn tôi / Trăng lên ngọn liễu trăng ngồi / Tôi lên ngọn liễu tôi rơi bao giờ”.

Từ năm 1978, Nguyễn Trọng Tạo mới được đông đảo biết đến là nhờ có bài Thơ gửi người không quen được in trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Tế Hanh, Chế Lan Viên, Xuân Diệu đã chọn đây là bài thơ hay nhất trong năm của tờ báo này.

Thế nhưng đình đám nhất vẫn là hai bài thơ in trên báo Văn Nghệ năm 1981: Tản mạn thời tôi sống, Thơ tình của người lớn tuổi.

Mới đây, năm 2016, gặp nhau tại Hội nghị lý luận phê bình do Hội Nhà văn VN tổ chức ở Tam Đảo, anh có kể cho tôi nghe những sự cố rắc rối từ bài thơ Tản mạn thời tôi sống.

Và khi trình bày quan niệm về thơ, anh tâm tình: “Thơ gần với nước mắt hơn là tiếng cười, gần với khổ đau hơn là reo hát, gần với sẻ chia hơn là chiếm đoạt, gần với chiến thắng mình hơn là răn người… Hay nói như G. Lorcaa, thơ gần với mực hơn là với máu”. Suy nghĩ này đã được nhiều người tại hội nghị đồng tình.

Nay, đọc lại bài thơ này vẫn còn thấy hay và nhất là hai câu đã được truyền tụng rộng rãi: “Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi / Câu trả lời thật không dễ dàng chi”. Hay nhất vẫn câu lặp đi lặp lại: “Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa” – đã cho thấy một sự vận động theo hướng tích cực hơn. Có thể nói bài thơ Tản mạn thời tôi sống là một trong những tín hiệu báo trước của văn học đổi mới.

Không chỉ làm thơ, viết văn xuôi, Nguyễn Trọng Tạo còn là tay làm báo cực siêu. Với tạp chí Thơ duy nhất hiện nay của cả nước, thì trước đó anh đã “cầm trịch” tờ báo Thơ với sự đổi mới rực rỡ về nội dung, phong phú bài vở do quy tụ được các nhà thơ, nhà lý luận trong cả nước. Đó là do cái tâm tính quảng giao nên anh có lợi thế tổ chức được bài vở chu đáo, chất lượng.

Không những vậy, tập sách Chuyện ít biết về văn nghệ sĩ một thời “bán chạy như tôm tươi” cũng là do mối quan hệ cá nhân, anh đã cung cấp cho người đọc nhiều thông tin lý thú đằng sau trang viết của nhà văn. Anh còn là họa sĩ trình bày bìa sách báo, sáng tác ca khúc.

Năm vừa rồi, đêm nhạc của anh đã tổ chức tại Nhà hát lớn Hà Nội, có thể ghi nhận là lẵng hoa tươi đẹp nhất vào cuối đời mà anh đã dành cho công chúng và ngược lại.

Con người tài hoa này vừa rời xa chúng ta. Nhớ lại những lúc anh vào Sài Gòn, chúng tôi thường gặp gỡ và cũng chỉ bàn về thơ.

Nhà thơ Trương Nam Hương gọi điện thoại cho biết vừa có bài thơ tưởng niệm anh chưa ráo mực: “Đồng dao cho người lớn / Nương thân trong nỗi buồn / Rượu – thơ – và nhan sắc / Cứ đằm đằm nhớ thương / Người tài hoa sáng tạo / Chiều nay xa thật rồi / Hỏi anh đi đâu thế? / Anh cười trong mây trôi…”.

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo qua đời tại Hà Nội vào 19h50 ngày 7-1, sau hơn hai tháng chiến đấu với bệnh ung thư phổi.

Nguyễn Trọng Tạo sinh năm 1947 trong một gia đình Nho học ở làng Trường Khê (nay là Diễn Hoa), huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo, họa sĩ vẽ bìa sách.

Ông được nhiều người biết đến trong vai trò là nhạc sĩ của một số ca khúc được yêu thích, trong đó nổi tiếng nhất là bài Khúc hát sông quê, Làng quan họ quê tôi.

Nhưng sự nghiệp lớn nhất của ông là thơ. Ông là tác giả của những tập thơ, trường ca như Đồng dao cho người lớn, Nương thân, Thế giới không còn trăng, Con đường của những vì sao (Trường ca Đồng Lộc), Trường ca Biển mặn…

THIÊN ĐIỂU

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo: Mai sau tôi chết trong thơ…

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/nha-tho-nhac-si-nguyen-trong-tao-mai-sau-toi-chet-trong-tho-20190108091216765.htm

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo qua đời vì ung thư phổi

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo qua đời vì ung thư phổi,

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo qua đời vì ung thư phổi - Ảnh 1.

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo (trái) được nhiều bạn bè yêu quý bởi tài năng và tấm lòng nhiệt tình – Ảnh: HỒ BẤT KHUẤT

Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha vừa xác nhận tin buồn này với Tuổi Trẻ Online. Tác giả Khúc hát sông quê đã qua đời vào 19h50 tối 7-1, tại Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội.

Theo nhà văn, nhà báo Hồ Bất Khuất, một người bạn của nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, thì ông mất vì căn bệnh ung thư phổi di căn.

Ông Khuất cho biết khoảng hơn 2 tháng trước, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo phải nhập viện và sau đó gia đình phát hiện ông bị ung thư phổi giai đoạn cuối, đã di căn lên não. Ban đầu gia đình giấu bệnh với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nhưng sau đó thì quyết định nói cho ông biết.

Ông Tạo đã đón nhận tin dữ khá điềm tĩnh.

Cách đây không lâu, ông Nguyễn Trọng Tạo trải qua một cơn thập tử nhất sinh và đã chiến thắng cơn tai biến một cách ngoạn mục.

Những ngày cuối năm 2017, ông Nguyễn Trọng Tạo bị tai biến mạch máu khi đang ở quê nhà Nghệ An. Lúc đó gia đình và bạn bè đã hốt hoảng chuẩn bị đón nhận tin dữ về ông.

Nhưng bằng nghị lực và cả sự may mắn hiếm hoi, ông đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Sau 20 ngày cấp cứu, ông dần tỉnh táo, thậm chí trở lại cuộc sống với một tinh thần mạnh mẽ hơn và giàu cảm xúc hơn như ông chia sẻ.

Ông đã kịp tổ chức đêm thơ, nhạc Khúc hát sông quê vào tháng 8-2018 tại Hà Nội.

Trong buổi gặp gỡ báo chí trước đêm thơ nhạc vào cuối tháng 7-2018, Nguyễn Trọng Tạo đã hồ hởi và hạnh phúc khoe với mọi người về kỳ tích thoát khỏi tay thần chết của mình.

Nhưng số phận lại một lần nữa thử thách ông. Và may mắn đã không mỉm cười với ông thêm lần nữa. Nguyễn Trọng Tạo đã không chiến thắng được căn bệnh ung thư giai đoạn cuối.

Nhà báo Hồ Bất Khuất cho biết trong quá trình dưỡng bệnh, ông và gia đình đã lên kế hoạch xuất bản Tuyển tập Nguyễn Trọng Tạo với 5 tập. Đại diện Nhà xuất bản Hội Nhà Văn cho biết nhà xuất bản làm hai cuốn trong bộ tuyển tập này có tên Thơ tình Nguyễn Trọng TạoLục bát Nguyễn Trọng Tạo. Hai tập sách về Nhà xuất bản Hội Nhà Văn vào chiều 8-1.

Nguyễn Trọng Tạo sinh năm 1947 trong một gia đình nho học ở làng Trường Khê (nay là Diễn Hoa), huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ông là nhà thơ, nhạc sĩ, nhà báo, họa sĩ vẽ bìa sách.

Ông nổi tiếng trong công chúng với vai trò là nhạc sĩ của một số ca khúc được yêu thích, trong đó nổi tiếng nhất là bài Khúc hát sông quê, Làng quan họ quê tôi.

Nhưng sự nghiệp lớn nhất của ông lại là thơ. Ông là tác giả của những tập thơ, trường ca như Đồng dao cho người lớn, Nương Thân, Thế giới không còn trăng, Con đường của những vì sao (Trường ca Đồng Lộc), Trường ca Biển mặn…

Là một người đa tài nhưng ít ai biết rằng Nguyễn Trọng Tạo không hề có bằng cấp gì. Theo nhà báo Hồ Bất Khuất, tuy không có bằng cấp nhưng Nguyễn Trọng Tạo lại là một người rất say mê học hỏi, một người rất thông minh và chịu khó tự học.

Ông Tạo từng giành giải nhì trong cuộc thi học sinh giỏi toán toàn miền Bắc khi ông học lớp 10 nhưng ông lại không có bằng tốt nghiệp THPT. Ông cũng theo học khóa 1 Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa đầu tiên này không đòi phải có bằng tốt nghiệp THPT) nhưng cũng không có bằng tốt nghiệp.

Nguyễn Trọng Tạo và Ký ức mắt đenNguyễn Trọng Tạo và Ký ức mắt đen

TT – Tập thơ song ngữ Ký ức mắt đen (Memory of black eyes) của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo vừa được Nhà xuất bản Thế Giới ấn hành. Tập thơ do nhà thơ trẻ Nguyễn Phan Quế Mai và chuyên gia ngôn ngữ của Mỹ Hilary Watts chọn và chuyển ngữ.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo qua đời vì ung thư phổi

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/nha-tho-nhac-si-nguyen-trong-tao-qua-doi-vi-ung-thu-phoi-2019010719423443.htm

Phục hồi điện Phụng Tiên trong Đại nội Huế theo cách thời xưa

Phục hồi điện Phụng Tiên trong Đại nội Huế theo cách thời xưa,

Phục hồi điện Phụng Tiên trong Đại nội Huế theo cách thời xưa - Ảnh 1.

Phần cổng chính và bình phong của điện Phụng Tiên đã được phục hồi – Ảnh: NHẬT LINH

Sáng 7-1, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế phối hợp với Hiệp hội bảo tồn di sản văn hóa phi lợi nhuận Fulda Đức (GEKE) đã tổ chức lễ bàn giao công trình phục hồi cổng, bình phong, non bộ ở điện Phụng Tiên trong Đại nội Huế.

Công trình được tiến hành phục hồi từ tháng 9-2017 với kinh phí hơn 4,2 tỉ đồng, trong đó hơn 3,4 tỉ đồng được Bộ Ngoại giao CHLB Đức tài trợ.

Công trình trên được phục hồi bằng phương pháp truyền thống dưới thời nhà Nguyễn. Đặc biệt các hoa văn, họa tiết vẽ trên phần cổng và bình phong của điện Phụng Tiên được vẽ lại bằng kỹ thuật vẽ màu trên nền vữa vôi còn ẩm ướt.

Phục hồi điện Phụng Tiên trong Đại nội Huế theo cách thời xưa - Ảnh 2.

Ông Andrea Teufel – Đại sứ CHLB Đức tại Việt Nam – cam kết Chính phủ Đức sẽ tiếp tục tài trợ cho Việt Nam trong việc bảo tồn các di sản văn hóa – Ảnh: NHẬT LINH

Ngoài việc bàn giao các công trình vừa được phục hồi trên cho Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế quản lý, GEKE còn tiến hành đào tạo chuyên sâu, chuyển giao kỹ thuật mới và cấp chứng nhận cho 7 thợ thủ công chuyên ngành bảo tồn, phục hồi di sản ở Huế.

Sắp tới, các thợ thủ công này sẽ tiếp tục tiến hành dự án phục hồi một cổng nhỏ dẫn lối vào điện Phụng Tiên dưới sự tư vấn của các chuyên gia người Đức và Cục Di sản văn hóa – Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch.

Ông Andrea Teufel – Đại sứ CHLB Đức tại Việt Nam – cho rằng việc phục hồi các công trình của điện Phụng Tiên ở Huế là minh chứng cho cái bắt tay bền chặt giữa hai nước Đức và Việt Nam trong công các bảo tồn các di tích văn hóa.

Ông Teufel cũng cam kết Chính phủ Đức sẽ tiếp tục tài trợ cho Việt Nam trong việc bảo tồn các di sản văn hóa, kiến trúc. Đồng thời sẽ tiếp tục hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực trong ngành bảo tồn di sản của Việt Nam trong tương lai.

Điện Phụng Tiên nằm trong Đại Nội Huế là một trong 5 miếu thờ quan trọng dưới triều Nguyễn. Công trình được xây dựng vào năm 1829 và là nơi thờ tự các vua cùng hoàng hậu từ thời vua Gia Long đến vua Khải Định.

Điện Phụng Tiên khác với các nơi thờ tự khác trong Hoàng cung là nơi duy nhất nữ giới có thể đặt chân đến để hương khói, thờ tự hàng ngày.

Vào tháng 2-1947, do chiến tranh, chánh điện bị phá hủy chỉ còn lại phần móng. Hệ thống cổng, bình phong, non bộ bị hư hại nặng.

Phục hồi điện Phụng Tiên trong Đại nội Huế theo cách thời xưa - Ảnh 4.

Hệ thống non bộ trong điện Phụng Tiên được phục hồi – Ảnh: NHẬT LINH

Phục hồi điện Phụng Tiên trong Đại nội Huế theo cách thời xưa - Ảnh 5.

Một cổng phụ của điện Phụng Tiên sắp tợi sẽ được phục hồi – Ảnh: NHẬT LINH

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Phục hồi điện Phụng Tiên trong Đại nội Huế theo cách thời xưa

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/phuc-hoi-dien-phung-tien-trong-dai-noi-hue-theo-cach-thoi-xua-20190107132830964.htm

Người lính không sợ chết, nhưng người lính nào cũng muốn về nhà

Người lính không sợ chết, nhưng người lính nào cũng muốn về nhà,

Người lính không sợ chết, nhưng người lính nào cũng muốn về nhà - Ảnh 1.

Đại tá – liệt sĩ Trương Hồng Anh và vợ Khánh Hà trong những tháng ngày ngắn ngủi bên nhau – Ảnh chụp màn hình

“Người lính không sợ chết, nhưng người lính nào cũng muốn về nhà! Điều gì khiến ba đi qua những mùa khô phải uống nước trong từng vũng bùn? Phải vĩnh biệt một người lính vừa nằm xuống trong rừng khộp trơ trụi lá?

Có một lá thư ngắn ba viết cho mẹ từ chiến trường Đông Bắc, một cái tết ba không thể về nhà: Em và con thương nhớ, cơn gió rét sẽ trôi qua, tia nắng ấm và làn gió lành sẽ đến… Mẹ con em hãy vui lên để mùa xuân yên lành!”.

Đó là những lời đầu tiên mà Khánh Hồng – cô con gái của đại tá Trương Hồng Anh, sư đoàn trưởng sư đoàn 2 quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia – nói trong những thước phim mở màn của Ba tôi. Khánh Hồng mất ba từ khi còn đang bi bô tập nói.

Câu chuyện về việc thực hiện bộ phim này, cùng những cảm xúc cá nhân, lần đầu tiên được nhà làm phim Đoàn Hồng Lê chia sẻ với Tuổi Trẻ vào ngày kỷ niệm đặc biệt 7-1 năm nay.

Điều chạm đến trái tim tôi nhất chính là những bức thư đôi vợ chồng trẻ gửi cho nhau trong những năm thiếu thốn đó. Như một lá thư của đại tá Hồng Anh viết cho vợ: “Hà em, những ngày của tháng 1 này rất nhớ và trông thư em nhiều. Em, trong cuộc sống và tình yêu của mình phải tự vẽ nên một bức tranh thật đẹp. Bức tranh ấy nếu treo ở phòng riêng hay nơi công cộng cũng đều làm người xem rất sinh động vì có khả năng hướng cho tuổi trẻ một tương lai đầy phấn đấu…”. Bức thư cuối cùng bà Khánh Hà gửi cho chồng hay bức thư về chiếc giường gỗ đơn vị lén tặng mà đại tá Trương Hồng Anh nhắc vợ “phải thận trọng với những vấn đề liên quan đến vật chất”… Những bức thư nhắc nhớ một thời sống trong khó nghèo nhưng người ta đầy ý thức về phẩm giá và tình yêu.

Nhà làm phim ĐOÀN HỒNG LÊ

Chiến tranh nhìn từ cánh thư

* Cơ duyên nào đã đưa chị đến câu chuyện của đại tá Trương Hồng Anh và vợ của ông, bà Khánh Hà, trong bộ phim tài liệu Ba tôi?

– Đầu năm 2018, tôi nhận được kịch bản phim của anh Nguyễn Anh Tuấn, Đài PT-TH Quảng Ngãi, viết về cuộc đời đại tá – liệt sĩ Trương Hồng Anh, một người Quảng Ngãi, sư đoàn trưởng sư đoàn 2 quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Ông là sư đoàn trưởng trẻ nhất toàn quân vào năm 36 tuổi, sự hi sinh của ông là tổn thất lớn của quân đội Việt Nam.

Lúc đầu tôi ngần ngại không muốn nhận làm bộ phim này, vì nghĩ chiến tranh qua đi đã lâu, liệu khán giả còn muốn xem những bộ phim tài liệu về người lính? Tôi phải tiếp cận lịch sử theo cách nào đây?

Nhưng khi gọi điện thoại cho người con gái của đại tá Trương Hồng Anh, và đặc biệt sau cuộc trò chuyện với bà Khánh Hà – vợ của đại tá, biết rằng bà còn giữ nguyên vẹn những bức thư họ gửi cho nhau từ khi mới quen, đến lá thư cuối cùng bà viết cho chồng mà lá thư còn chưa kịp đến tay người nhận.

Cuối cùng bà nhận lại bức thư còn nguyên tem đó trong chiếc rương đựng di vật tử sĩ gửi về từ chiến trường Dangrek…

Tôi đã nghĩ nhiều về câu chuyện tình này, quyết định đại tá Trương Hồng Anh sẽ hiện ra trong mắt người xem như một người chồng – người cha – người đồng đội, chứ không phải một vị tướng ngoài chiến trận.

* Và chị đã bắt đầu hành trình của Ba tôi như thế nào?

– Tôi bắt đầu quay cuộc sống của bà Khánh Hà và cô Khánh Hồng – con gái duy nhất của đại tá Trương Hồng Anh – vào tháng 5 năm ngoái, ngay trước ngày giỗ của ông. Bà vẫn sống một mình trong căn hộ 30m2 ở tầng 5 khu tập thể Nam Đồng, Hà Nội, cùng những kỷ vật của người chồng đã khuất.

Lần giở từng món đồ được bao bọc cẩn thận, có khi bà chảy nước mắt, có khi khúc khích cười như cô thiếu nữ vừa mới biết yêu lần đầu. Trong các kỷ vật, có chiếc khăn tay thêu đôi chim nhỏ ngày hai người mới quen biết, đôi bao tay len trắng đã ngả màu mà đại tá Trương Hồng Anh mang trong ngày cưới của họ. Nhìn cảnh ấy tôi hiểu vì sao mối tình này đã sống với bà cả một đời.

Chuyến đi tìm lại những mảnh vỡ

* Quá trình thực hiện một bộ phim thấm đẫm tình yêu diễn ra ra sao và hẳn là đã để lại cho chị những cảm xúc đặc biệt…

– Trong chuyến đi cùng bà Khánh Hà và con gái trở lại chiến trường Dangrek, chúng tôi gặp người dẫn đường là anh Đặng Xuân Thu – phóng viên đã có mặt trên chiếc xe định mệnh đưa đại tá Trương Hồng Anh đi xem xét chiến trường sau trận đánh.

Chiếc xe trúng mìn của quân Pol Pot, đại tá hi sinh, anh Xuân Thu may mắn sống sót. Chúng tôi ở cùng một khách sạn tại Siem Reap, nhưng tôi giữ kín để hai bên chỉ gặp nhau lần đầu tiên trên con đường đến núi Dangrek, như trong phim, đặng giữ cho họ cảm xúc thật.

Và rồi chúng tôi lần tìm đến sát chân núi Dangrek. 35 năm trôi qua, rừng đã phủ xanh chiến trường ngày trước. Anh Xuân Thu cố gắng xác định con đường mòn chạy vòng chân núi… Bầu trời mùa khô xanh ngắt, một con chim “bắt ma” chao liệng cứ kêu lên từng tiếng khắc khoải khắc khoải.

Chúng tôi hỏi thăm người dân Campuchia đi ngang qua đó. Bà Khánh Hà đứng cách ra một quãng, chắp tay cầu nguyện linh hồn đại tá Trương Hồng Anh. Và rồi đằng xa, người phiên dịch của chúng tôi chạy đến: “Đã tìm ra xác xe rồi!”.

Lúc đó đúng 12 giờ trưa. Một người dân Campuchia đưa chúng tôi về rẫy hoa màu bên nhà mình, nơi đó bà Khánh Hà đã nhìn thấy những mảnh vụn còn lại của chiếc xe chở đại tá.

* Ba tôi cho người xem thấy sự can trường của những người lính tình nguyện Việt Nam trong chiến tranh Campuchia, nhưng đồng thời thấy sự lãng mạn, ngọt ngào trong tình yêu qua lời kể của những người ở lại… Là nhà làm phim, cũng là phụ nữ, chị cảm nhận điều đó ra sao?

– Ngày còn nhỏ tôi có đọc một truyện ngắn trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, chuyện về một người phụ nữ chờ chồng đang ở chiến trường. Sáng nào cô cũng đem quần áo ra phơi trước sân, ngoài trời, và chiều nào trở về cô cũng đứng tần ngần ở khúc quanh rẽ vào nhà, mong nhìn vào sẽ không còn thấy quần áo ở đó, nghĩa là chồng cô đã về.

Ngày này qua ngày khác, những bộ quần áo bạc màu đi trong nắng mưa, không có ai đem cất chúng cả. Tôi cũng từng nghe kể câu chuyện về người vợ của một vị tướng lẫy lừng. Lúc ông ở chiến trường, người vợ ở lại làng quê, đã đi lại với một người buôn chiếu từ vùng khác đến. Nghe tin ông sắp về phép, một đêm mưa gió, người vợ ấy đã bơi qua sông Lam, từ đó không ai còn gặp lại bà.

Trong lúc những người đàn ông hát khúc tráng ca ở chiến trường, những người đàn bà hát bi ca. Chúng ta đã có quá nhiều tráng ca qua những bộ phim tài liệu về chiến tranh, trong khi những khúc bi ca rất ít được ghi chép lại. Đó là điều tôi nghĩ đến khi đứng trong hành lang khu tập thể Nam Đồng, nhìn bà Khánh Hà cắm những bông hoa hồng đặt lên bàn thờ đại tá Trương Hồng Anh.

khanh ha 1

Đoàn làm phim Ba tôi gồm đạo diễn Đoàn Hồng Lê (bìa trái), biên kịch Nguyễn Anh Tuấn (bìa phải), vợ con đại tá Trương Hồng Anh, và phóng viên chiến trường Đặng Xuân Thu… có mặt tại Campuchia, nơi đại tá đã hi sinh trong cuộc chiến tranh giải phóng Campuchia – Ảnh: NVCC

Đạo diễn Đoàn Hồng Lê theo đuổi dòng phim tài liệu điện ảnh trực tiếp từ năm 2004 và là thành viên Varan Việt Nam – những nhà làm phim theo phong cách phim tài liệu Pháp, với mong muốn sản xuất những bộ phim tài liệu về đề tài đương đại bằng ngôn ngữ điện ảnh trần trụi nhưng giàu cảm xúc và đậm tính hiện thực. Ngoài việc làm phim, Đoàn Hồng Lê cũng là người đồng tổ chức và điều hành dự án đào tạo điện ảnh trực tiếp của Varan Việt Nam vào các năm 2010-2011 tại Đà Nẵng.

Ngoài Ba tôi, nhiều bộ phim của chị đã ra mắt và chạm đến người xem ở những ngóc ngách cảm xúc khác nhau như Lời cuối của cha (giải thưởng Dự án phim tài liệu dài của Quỹ điện ảnh DMZ tại Hàn Quốc năm 2015, giải Đạo diễn xuất sắc nhất LHP tài liệu quốc tế Dehong tại Trung Quốc năm 2018), Đất đai thuộc về ai (sản xuất năm 2009, đoạt giải thưởng của ban giám khảo LHP Cameras des Champs, Pháp năm 2011 và giải Trái tim xanh YxineFF năm 2012)…

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Người lính không sợ chết, nhưng người lính nào cũng muốn về nhà

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/nguoi-linh-khong-so-chet-nhung-nguoi-linh-nao-cung-muon-ve-nha-20190107084535017.htm

Nghệ sĩ Mạnh Tràng qua đời sau thời gian điều trị ung thư

Nghệ sĩ Mạnh Tràng qua đời sau thời gian điều trị ung thư,

Nghệ sĩ Mạnh Tràng qua đời sau thời gian điều trị ung thư - Ảnh 1.

Nghệ sĩ Mạnh Tràng tên thật là Nguyễn Mạnh Tràng, sinh năm 1966 tại Long An. Anh tốt nghiệp Trường Nghệ thuật sân khấu 2 năm 1990. Không có vóc dáng và gương mặt đẹp nên khi ra trường Mạnh Tràng lận đận một thời gian dài.

Tuy nhiên, Mạnh Tràng có duyên hài ngầm. Vai diễn của của anh xù xì, cục mịch nhưng anh biết biến những nét chân chất đó trở nên đáng yêu và chiếm được cảm tình với khán giả trên sân khấu. Anh có cách diễn tự nhiên, mộc mạc, lối diễn tỉnh rụi mà tạo ra tiếng cười hết sức duyên dáng. Không chỉ dừng ở sở trường hài, Mạnh Tràng còn có khả năng thể hiện những vai bi, độc.

Nghệ sĩ Mạnh Tràng qua đời sau thời gian điều trị ung thư - Ảnh 2.

Mạnh Tràng trong vở Hồn ma báo oán – Ảnh: Gia Tiến

Nghệ sĩ Phước Sang từng phát hiện ra nét diễn đặc biệt của Mạnh Tràng và mời anh về cộng tác với sân khấu kịch Sài Gòn. Sau đó, Mạnh Tràng kết hôn với chị gái của Phước Sang và được ông bầu nổi tiếng một thời giao quản lý sân khấu kịch Sài Gòn để anh đầu tư cho việc kinh doanh, làm phim điện ảnh, truyền hình…

Đảm nhiệm vai trò quản lý sân khấu kịch Sài Gòn hơn 10 năm nay, Mạnh Tràng đã gây ấn tượng với nhiều vai diễn trên sân khấu như: Hồn ma báo oán, Hồn trinh nữ, Ác báo, Tử hình, Cứu em… Anh đã xuất hiện trong các bộ phim điện ảnh Công chúa teen và ngũ hổ tướng, Kỳ phùng địch thủ, Hello cô Ba

Mạnh Tràng đã đoạt giải Mai vàng 2008 với vai Ba và Minh trong Hồn ma báo oán, đoạt huy chương vàng Liên hoan kịch nói toàn quốc 2012 với vở Hồn ma báo oán, huy chương vàng Liên hoan kịch nói toàn quốc 2015 với vở Tử hình

Linh cữu nghệ sĩ Mạnh Tràng được quàn tại nhà vãng sanh chùa Vĩnh Nghiêm. Lễ động quan lúc 6h ngày 9-1, sau đó đưa đi hỏa thiêu tại Bình Hưng Hòa.

Mạnh Tràng: lầm lũi trên đường nghệ thuậtMạnh Tràng: lầm lũi trên đường nghệ thuật

TT – Ai vậy kìa? Anh chàng mang biệt danh “Tư trăn trở” trong vở kịch truyền hình Hậu H5N1 (kịch bản: Hồng Duyên, đạo diễn: Trần Văn Sáu) phát sóng vào tối 15-5-2004 mới đây trên kênh HTV9 (chuyên mục Chuyện bốn mùa) trông ngồ ngộ, vui vui. Thì ra Mạnh Tràng.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Nghệ sĩ Mạnh Tràng qua đời sau thời gian điều trị ung thư

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/nghe-si-manh-trang-qua-doi-sau-thoi-gian-dieu-tri-ung-thu-20190107080457295.htm

Cà phê với Vua

Cà phê với Vua,

Cà phê với Vua - Ảnh 1.

Mấy nay, các bô lão có tuổi trong khu phố cứ chộn rộn huyên náo như là Tết đến nơi. Mà thiệt, Tết sắp ló mặt tăm tia vô từng nhà, xem đã sắm sửa gì chưa, hoa lá nở tới đâu rồi.

Y như lời ông Tư Rành trong ban cúng tế nhắc mọi người chuẩn bị đầy đủ hết chưa, mơi là cúng Kỳ Yên rồi nghen. Nếu là dăm chục năm về trước, đáp lại lời nhắc đó là sự loi nhoi của đám nhỏ.

Sắp cúng đình rồi đó bây, sắp được ăn heo quay với xôi bà Năm nấu rồi đó bây, ráng ăn nhiều mau lớn như Thánh Gióng nghen bây! Còn mấy bà già lơ phơ tóc trắng, răng trệu trạo đảo qua đảo lại miếng trầu đỏ tươi, hỏi dồn:

– Nay đoàn nào về hát hả Tư? Ai cầm chầu hả Tư?

– Khi nào hồi chầu hả Tư? Biết để kêu thằng Hai đưa đi cúng đúng bữa!

Mà đâu chỉ đi cúng không thôi, mấy bà còn lúi húi quảy theo cơi trầu, vắt cái khăn đội đầu, lót dép ngồi bệt dưới bãi đất trống ở sân đình, kêu thôi tụi bay có việc thì về trước đi, tao coi vãn tuồng rồi về. Một năm mới gặp Vua Chúa có một lần hà, để tao coi cho trọn!

Những hình ảnh đó, âm thanh náo nức bồi hồi đó, nó vẫn còn lai vãng đâu đây.

Chỉ khác là khi xóm đã lên tầm khu phố, những mảnh sân hoa cau rụng trắng đã lần lượt thay bằng sân ximăng hoặc gạch men bóng, đến nỗi con nít mới tập đi thỉnh thoảng té sấp mặt, khóc la ì xèo thì cái sự bổi hổi bồi hồi xem ra đã vợi đi bội phần, chỉ còn vương nơi những cụ ông cụ bà tóc trắng.

Tư Rành còn nhớ như in những năm cúng đình cách đây vài thập niên, mỗi lần nghe tiếng chiêng trống khua vang, cờ lọng xanh đỏ vàng diễu từ cổng đình đi vô là đám nam thanh nữ tú đặt hết việc nặng nhẹ trong nhà xuống, áo quần chỉn chu, có cô còn kỹ lưỡng bôi chút nước hoa nhè nhẹ lên cổ tay.

Để chi? Để mình không lẫn trong cái đám đầu xanh lô nhô loi nhoi dưới sân đình, mà rủi người thương không thấy, không biết. Hoặc trong thâm tâm cổ, cái mùi nước hoa dịu dàng như hương cau hương bưởi đó biết đâu sẽ len lỏi vào giữa mùi phấn son oi nồng của đám nghệ sĩ lộng lẫy uy nghi trên sân khấu, khiến ông Vua đẹp trai quắc thước đang ra oai trên đó xao lòng. Biết đâu, ờ thì biết đâu!

Cô Hai Hường, con gái lớn Tư Rành, cũng từng như vậy. Trong hộc tủ nhỏ đặt đầu giường lúc nào cũng đầy ắp những lọ nước hoa bé bé xinh xinh, này là mùi hổ phách, mùi gỗ, mùi cỏ xạ hương… Hai Hường yêu quý những lọ nước hoa, tỉ như nó là thứ nước thần, có phép mầu rù quến được Tề Tuyên Vương lãng tử ăn chơi nức tiếng trên sân khấu về với mình.

Hai Hường đẹp đúng chuẩn mực phụ nữ Việt, mặt trái xoan, nước da trắng hồng thuần khiết, mắt bồ câu, mi dày cong lên hờn dỗi, má thắm môi hồng, đôi bàn tay thuôn dài ngà ngọc…

Tề Tuyên Vương nhất định sẽ say, sẽ mê, sẽ không thoát ra khỏi những ám ảnh dịu dàng mà Hai Hường cố tình giăng mắc sau mỗi lần Vua trút bỏ long bào uy quyền.

Tư Rành thương con, nên năm nào cúng đình mà được giao cầm chầu và đúng cái đoàn Hương Mùa Xuân về hát đình, sau mỗi lần ông Vua ấy dứt câu vọng cổ lê thê, nghe mà tái tê hết lòng thì y rằng Tư Rành sẽ hào phóng tặng Tề Tuyên Vương “con rể tương lai” vài hồi trống tưởng thưởng.

Đó, Tư Rành hào sảng vậy, Hai Hường xinh đẹp nhường ấy, mà ông Vua sân khấu kia nào có mảy may. Ông Vua “con rể” cầm tay Tư Rành ra điều hàm ơn sâu sắc, nhưng đành mà rằng: “Nghiệp diễn là xướng ca vô loài, nay vinh quang đó, mai còn như xưa? Cái tình của cha con bác, tôi nhất quyết mang theo trong dạ, còn mọi thứ xin dừng tại nơi này!”.

Trời ơi! Ông Vua nói mà như diễn. Như vầy, Hai Hường chịu sao thấu? Hai Hường không cam tâm làm một cành mai chết khô chỉ vì một người không đáng. Hai Hường lấy chồng, không biết có phải phục hận không?

Nhưng sau này, mỗi kỳ cúng đình, cho dù có là đoàn Hương Mùa Xuân hay đoàn khác về, Hai Hường cũng như không nghe, không thấy, mặc ông già nô nức áo quần mũ mão đi đình liền mấy ngày mấy đêm, vui như hội.

Năm nay, đoàn Hương Mùa Xuân lại về, nhờ vậy mà Tư Rành có hẹn cà phê lai rai với mấy anh em nghệ sĩ đáng tuổi con mình. Thằng con rể hụt giờ tóc đã thập thò vài sợi trắng, mắt trũng sâu dù cả khuôn mặt vẫn ăn đèn sân khấu như xưa. Tư Rành nhấp ngụm cà phê đen đặc, không chút vòng vo với thằng rể hụt:

– Lâu mới gặp lại ha, vợ con gì chưa bây?

Ông Vua ngồi vò đầu bứt tai, không phải xấu hổ gì, chỉ là khó nói quá đi!

– Dạ, tình thiệt với bác là con thì mấy đứa nhưng vợ thì… như không!

Thật ra là con thương bà Chung Vô Diệm trong đoàn, thương dữ thần. Bả cũng thương con được vài năm, có với nhau mấy đứa, rồi sau bả theo gánh mới, bả đóng chết vai Phàn Lê Huê, rồi cũng chết tình với cái thằng Tiết Nhơn Quý bên gánh đó. Đám con thành ra côi cút, rồi con cũng… mồ côi vợ luôn tới giờ!

Biết là tình nghệ sĩ nó chênh vênh cám cảnh ghê gớm, nhưng Tư Rành không ngờ. Người đóng Chung Vô Diệm năm xưa dù mang sắc mặt của quỷ nhưng sau sân khấu là hoa khôi của

cả đoàn, biểu sao thằng này không mê. Mà kiếp sống rày đây mai đó cũng khiến người

ta đôi lúc lòng dạ trở nên bẩn chật không lường.

Tư Rành thở hắt, nuốt ngụm cà phê đắng ngắt, chia cho ông Vua ổ bánh mì ăn lót dạ buổi sáng:

– Để dành tiền lo sấp nhỏ nghen bây!

Ông Vua cắn miếng bánh mì, tủi thân ứa nước mắt nghĩ về những kỳ hát cúng đình vài

thập niên về trước, làm Vua Chúa mấy đêm thôi mà đủ sắm cà rá hột xoàn đeo lủng lẳng khoe chơi…

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Cà phê với Vua

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/ca-phe-voi-vua-20190106092820911.htm

Cải lương ám ảnh cải… cách đến nỗi hoảng loạn, làm đủ trò

Cải lương ám ảnh cải… cách đến nỗi hoảng loạn, làm đủ trò,

Cải lương ám ảnh cải... cách đến nỗi hoảng loạn, làm đủ trò - Ảnh 1.

Diễn viên Hoàng Hải được nhân viên hậu đài chuẩn bị để vào vai Tạ Tốn có thể thực hiện các cảnh đu bay, đánh chưởng (phun khói) trong trích đoạn Ỷ thiên Đồ long kiếm – Ảnh: DUYÊN PHAN

Trước đó, trong đợt hoạt động mở màn từ tháng 12-2018, nhiều khán giả đã bất ngờ khi tìm về vẻ đẹp của sân khấu cải lương thế kỷ 20.

Có những vẻ đẹp rất riêng và giá trị không hiểu sao theo thời gian cứ bị mai một dần…

Hồi trước mở màn một vở cải lương là người ta bật đèn dạ quang lung linh, đẹp lắm. Bây giờ có người xem màn hình LED là tiến bộ, là bối cảnh chính, song tôi thấy không phù hợp với cải lương và nhìn giả, khó chịu lắm!

Nghệ sĩ Lê Trung Thảo

“Đẹp mê hồn”

Trong ba ngày 17, 18 và 19-12-2018, tại Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang đã diễn ra các hoạt động mừng 100 năm sân khấu cải lương.

Trong đó các suất diễn ở sân khấu chính lầu 2 là nơi để khán giả tham quan hậu trường sân khấu, tìm hiểu các khâu chuẩn bị của nghệ sĩ trước khi bước ra sân khấu biểu diễn, xem các trích đoạn cải lương như Lão anh hùng họ Nguyễn, Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, Ỷ thiên Đồ long kiếm…

Những trích đoạn dàn dựng để người xem được ngắm lại những hình ảnh của cải lương xưa với cảnh trí thật (không dùng màn hình LED), micro treo và kéo trên sân khấu, những màn đánh chưởng, đu bay, bắn phi tiêu…

Đây là không gian thu hút và khiến nhiều khán giả thích thú. Những người lớn tuổi được sống lại không khí của ngày xa xưa, khi cánh màn nhung mở ra có thác đổ như thật, tiếng chim ríu rít, cảnh đánh chưởng như thật.

Diễn viên đóng vai Tạ Tốn bay vèo vèo trên không, mỗi phát “chưởng” ra là khói xịt mịt mù (khói tạo ra từ dây nối với bình khí nhỏ lận ở eo diễn viên). Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài thì có cảnh mộ vỡ ra, bươm bướm bay lên trông rất lãng mạn, rồi cảnh sấm chớp giật đùng đùng rất ấn tượng…

Có những người trẻ lần đầu đi xem lại ngạc nhiên không hiểu ngày xưa kỹ thuật hạn chế mà người ta có thể thiết kế sân khấu lung linh đến thế, thật và đẹp đến thế. Sau đó được lý giải, họ tròn mắt ngạc nhiên khi biết tất cả đều làm thủ công.

Cải lương thập niên 1970-1980 trong ký ức của nhiều nghệ sĩ như Hồng Vân, Kim Tử Long, Lê Trung Thảo… là “đẹp mê hồn”. NSƯT Kim Tử Long so sánh: “Trong cảnh trí ngày xưa, cung đình sẽ có phông nền được vẽ thật đẹp, sống động, có cột rồng, bục bệ, hoa lá cỏ cây, màn nhung tuyệt đẹp.

Cảnh nhà hội đồng mở ra đúng là nhà… của ổng. Cột gỗ, bàn thờ cẩm lai, ghế… Rồi ánh sáng đánh vô rất đẹp. Còn bây giờ cung vua chỉ có cái bục, cái ghế cho vua ngồi, nhà hội đồng chỉ có bộ bàn ghế, bàn thờ, phông trắng trơn. Bắt khán giả tưởng tượng nhiều quá nên người ta không thích”.

Nghệ sĩ Kim Tử Long cho rằng vì khó khăn nên người ta thường sử dụng màn hình LED cho tiện, đỡ chi phí hơn. Tuy nhiên, màn hình LED chỉ nên là phông hỗ trợ, vẫn phải cần thêm các cảnh trí nho nhỏ tô điểm thêm.

Anh bày tỏ tâm trạng: “Vẽ một cái phông tốn tiền mà diễn xong chẳng biết cất ở đâu. Ngày xưa các đoàn như Minh Tơ, Huỳnh Long, Sài Gòn 1, Sài Gòn 2… được cấp trụ sở riêng để vừa tập luyện vừa để cảnh trí, phục trang. Giờ các đoàn xã hội hóa lâu lâu làm một vở, chỗ đâu mà để cảnh trí.

Như vở Rạng ngọc Côn Sơn của công ty chúng tôi giờ cảnh bày đầy nhà. Gara xe được trưng dụng để chứa cảnh trí, tôi phải ra ngoài mướn chỗ gửi xe. Mà muốn tìm họa sĩ thiết kế trẻ cũng khó vì các em chưa có kinh nghiệm, chưa có sự am hiểu cải lương nhiều nên làm cảnh trí chưa đạt tới chiều sâu…”.

Cải lương ám ảnh cải... cách đến nỗi hoảng loạn, làm đủ trò - Ảnh 3.

Cảnh trong trích đoạn Lão anh hùng họ Nguyễn – Ảnh: DUYÊN PHAN

Ám ảnh “cải cách”

Đạo diễn Ca Lê Hồng cho rằng sân khấu cải lương là loại hình nghệ thuật tương đối trẻ so với tuồng, chèo, nên có thể nói đến hiện tại loại hình này vẫn chưa định hình, vẫn tiếp tục thu nạp vào mình những cải cách, tiến bộ mới.

Soạn giả Hoàng Song Việt khẳng định cải lương vốn là cải cách. Cải cách trong từng vở một. Tuy nhiên, chúng ta đừng bị ám ảnh bởi chữ cải cách đến nỗi… hoảng loạn, làm đủ trò.

Ông chia sẻ có người cho rằng cải cách phải làm cái gì khác người, rồi thể nghiệm đủ thứ khiến cải lương bị biến dạng một cách khổ sở. “Như vậy rất nguy hiểm, vì có khi người trẻ sẽ bị rối vì không biết gương mặt nào là của cải lương!” – ông nói.

Trong một cuộc tọa đàm gần đây, một ý kiến trẻ cho rằng có những bạn trẻ thấy… mệt mỏi với sự lê thê của cải lương. Bạn nói một nhân vật sắp chết mà ca câu vọng cổ dài ngoằng thì khó thuyết phục.

Ông Trần Ngọc Giàu cho rằng: “Khi tôi dạy ở Trường đại học Sân khấu – điện ảnh TP.HCM, hầu hết kịch bản kinh điển, cổ điển trước khi chết nhân vật đều nói đến… hai trang giấy.

Cải lương có đặc trưng riêng, tôi cho rằng tính tự sự của cải lương nằm trong bài vọng cổ. Khi chị Út Bạch Lan ca thì chị đang kể về nhân vật bằng giọng ca của mình. Khán giả mua vé xem anh Châu Thanh ca hơi dài mà không cho ảnh ca thì đâu được.

Tôi nghĩ tiết tấu của một vở diễn còn nằm trong biên kịch, cấu trúc kịch bản như thế nào. Nếu chúng ta đặt vấn đề muốn thay đổi tiết tấu thì cần nghiên cứu về âm nhạc, sáng tạo bài bản như thế nào trên hệ thống bài bản tổ, đưa nhạc mới vào như thế nào…”.

Nhìn lại và công nhận giá trị của nền sân khấu cải lương xưa không hẳn là việc đi lùi. Mỗi thời có quan điểm, hoàn cảnh, điều kiện xã hội khác nhau, không thể lấy cái cũ áp đặt cho thời đại mới. Tuy nhiên, kế thừa những giá trị cũ một cách sáng tạo biết đâu có thể khiến sân khấu cải lương có một con đường nào đó bớt gập ghềnh hơn…

Cải lương ám ảnh cải... cách đến nỗi hoảng loạn, làm đủ trò - Ảnh 4.

Cảnh mộ bị nứt ra trong trích đoạn Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài – Ảnh: DUYÊN PHAN

400 nghệ sĩ và nhạc công xuống phố

Đêm 13-1-2019 là chương trình giao lưu, biểu diễn và tôn vinh 100 năm nghệ thuật sân khấu cải lương tại phố đi bộ Nguyễn Huệ. Đây được xem là chương trình “đinh” của chuỗi hoạt động với kịch bản của tác giả Hoàng Song Việt và tổng đạo diễn là NSƯT Hoa Hạ. Chương trình được truyền hình trực tiếp trên kênh HTV1 và truyền tiếp trên kênh HTV9.

Theo thông tin từ đạo diễn Hoa Hạ, chương trình đêm 13-1 sẽ có sự tham gia của khoảng 400 nghệ sĩ và nhạc công, từ các thế hệ nghệ sĩ tiền bối như Lệ Thủy, Minh Vương, Thanh Tuấn, Lê Thiện, Thanh Điền, Thanh Kim Huệ, Trường Sơn, Thanh Loan, Hồng Nga… đến các nghệ sĩ trẻ sau này. Sẽ có sự xuất hiện của 11 gia tộc cải lương nổi tiếng. Dàn nhạc và biểu diễn hoàn toàn hát sống. Trong chương trình còn có phần tham gia biểu diễn 8 trích đoạn của các đơn vị xã hội hóa.

Sau đêm truyền hình trực tiếp tối 13-1, tối 14-1 chương trình sẽ diễn lại và có vài thay đổi để phục vụ rộng rãi công chúng tại phố đi bộ.

Khó tìm họa sĩ thiết kế hiểu nghề…

Nói về việc thiết kế cảnh trí cho sân khấu cải lương, họa sĩ Văn Tòng cho hay ngày xưa người ta mày mò, nắn nót từng chi tiết, làm toàn thủ công. Sân khấu cải lương thịnh nên các êkip thực hiện thiết kế, trang trí sân khấu phải liên tục sáng tạo để cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu khán giả.

“Bây giờ người ta làm ước lệ, giản lược, thường chỉ nghĩ đến màn hình LED. Anh em họa sĩ thiết kế sân khấu cải lương phần thì lớn tuổi, phần không sống được với sân khấu phải chuyển nghề.

Như tôi đã phải chuyển sang lập công ty phục vụ thiết kế cho lễ hội (họa sĩ Văn Tòng là người nhiều năm thực hiện thiết kế, trang trí cho đường hoa xuân Nguyễn Huệ). Lâu lâu các sân khấu, nhà hát gọi, nhớ nghề mới làm lại. Vì vậy, tôi biết các đơn vị muốn thực hiện một vở diễn tìm họa sĩ thiết kế mà hiểu nghề và làm đẹp cũng rất khó…” – họa sĩ Văn Tòng trăn trở.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Cải lương ám ảnh cải… cách đến nỗi hoảng loạn, làm đủ trò

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/cai-luong-am-anh-cai-cach-den-noi-hoang-loan-lam-du-tro-20190106092017983.htm

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết,

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 1.

Chợ phiên Y Tý chỉ họp duy nhất vào thứ bảy hàng tuần là nơi gặp gỡ, trao đổi hàng hóa của người dân bản địa

Chợ phiên Y Tý những ngày cuối năm đông vui, tấp nập và rực rỡ sắc màu từ những bộ trang phục của nhiều dân tộc ở vùng cao Tây Bắc. Phiên chợ càng đặc biệt hơn khi nằm giữa biển mây huyền ảo Y Tý, thu hút đông khách du lịch đến săn mây, dạo chợ, mua sắm và khám phá nét văn hóa độc đáo trên rẻo cao này.

Chợ phiên họp duy nhất vào ngày thứ 7 hàng tuần, ngay trung tâm xã Y Tý. Chợ bắt đầu từ sáng sớm, kéo dài đến xế chiều.

Khác với một số chợ phiên thường chỉ bán một loại hàng hóa, chợ phiên Y Tý bán đầy đủ các mặt hàng từ quần áo, vật dụng, thức ăn, rau củ, bánh trái… Trong đó, có rất nhiều sản vật đặc trưng của bà con dân tộc Mông, Dao, Giáy, Hà Nhì.

Chỉ còn chừng một tháng nữa là đến Tết cổ truyền, những gian hàng quần áo, đồ trang sức, giày dép nơi hút khách nhất vì ai cũng muốn mình thật xinh đẹp để đón chào năm mới. Các thiếu nữ Mông tíu tít thử những bộ quần váy Mông màu sắc rực rỡ gắn những đồng bạc sáng loáng phát ra tiếng leng keng. Các mẹ, các chị cũng tranh thủ dạo chợ sắm quần áo đẹp cho con.

Một tay dắt con gái 6 tuổi, tay kia là những món hàng mới mua được, chị Vàng Thị Cợ (bản Ngải Thầu Thượng, xã Ngải Thầu, huyện Bát Xát) cười tươi: “Mua cho con gái lớn đôi giày 200.000 đồng, mua cho con nhỏ váy hết 600.000 đồng. Mình chưa có nhiều tiền nên sẽ mua cho mình sau”.

Chàng trai 19 tuổi Sùng A Má cùng mẹ và 2 em trai cũng đi chợ phiên đến gần 12h trưa. Chàng trai người Mông khoe mua được đôi giày mới để đi chơi tết. Mọi người trong nhà đều sắm đồ mặc tết, mỗi người hết 500.00 – 600.000 đồng. Phiên chợ này, cả nhà A Má còn mua một chiếc chăn bông dày để đắp trong mùa lạnh.

“Mình đi phụ công trình xây dựng kiếm tiền. Có tiền hôm nay đi mua đồ cho ngày tết”, A Má hào hứng khoe.

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 2.

Những bộ váy áo người Mông sặc sỡ tại phiên chợ vùng cao dịp giáp tết

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 3.

Mẹ đưa con gái xuống chợ sắm váy áo mới đón tết

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 4.

Váy áo là mặt hàng được quan tâm nhiều nhất tại phiên chợ Y Tý khi cái Tết cổ truyền đang cận kề

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 5.

Trẻ con xuống chợ được mẹ cho tiền mua quà bánh ăn. Trong ảnh, một cô bé người Mông thưởng thức đọt mía mẹ mới mua cho. Đây là món ăn vặt ưa thích của đám trẻ con miền núi ở Y Tý

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 6.

Còn cậu bé này lại thích thú với chai nước cam vừa mua ở chợ

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 7.

Chợ phiên Y Tý là nơi tập trung nhiều sản vật đặc trưng của các anh em dân tộc. Trong hình là món bột gạo làm bánh phồng – một món bánh của người dân tộc Dáy. Người bán cho biết, cho một ít đường trắng, đường mía trộn vào với bột gạo này sẽ làm ra thứ bánh phồng rất ngon

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 8.

Chợ phiên này còn nổi tiếng với rau xanh, củ quả tươi ngon do chính người dân tự trồng và mang đến buôn bán tại chợ

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 9.

Một cụ bà khoe mớ cải xanh vừa mua tại chợ

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 10.

Những sản vật bản địa tươi ngon

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 11.

Món bánh rán thơm ngon của bà con tại phiên chợ Y Tý

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 12.

Phiên chợ cận kề dịp Tết cổ truyền của dân tộc rực rỡ sắc màu

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 13.

Vòng cổ trang sức của bà con dân tộc, vòng này có giá 250.000 đồng/bộ

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 14.

Phụ nữ tập trung vào váy áo, còn đàn ông tập trung vào hàng thịt trâu vừa mổ bán

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 15.

Bộ tóc đặc trưng của người phụ nữ Hà Nhì đen nổi bật tại chợ phiên

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 16.

Em bé người Mông theo mẹ xuống phiên chợ giáp tết được mẹ mặc cho bộ váy áo mới sặc sỡ

Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết - Ảnh 17.

Niềm vui của cụ bà khi mua được chiếc khăn quàng cổ mới. Tại phiên chợ, bất kể người già hay trẻ em đều thích thú được xuống chợ mua sắm, gặp gỡ bạn bè

Mùa săn mây Y TýMùa săn mây Y Tý

TTO – Đã nghe tiếng từ lâu và xem cả bộ ảnh khá ấn tượng về biển mây Y Tý (huyện Bát Xát, Lào Cai), nhưng đến khi được đứng giữa đất trời Y Tý, giữa biển mây bồng bềnh như thực, như mơ ấy tôi như vẫn chưa tin vào sự thật…

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Đẹp như chợ phiên Y Tý rực rỡ sắc màu giáp Tết

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/dep-nhu-cho-phien-y-ty-ruc-ro-sac-mau-giap-tet-20190105231234096.htm

Chủ nghĩa chó cắn và cách đương đầu

Chủ nghĩa chó cắn và cách đương đầu,

Chủ nghĩa chó cắn và cách đương đầu - Ảnh 1.

Diogenes sống trong chậu, tranh của Jean-Léon Gérôme, 1860. Ảnh: WIKIPEDIA

Đây là một châm ngôn chỉ rõ tâm lý của kiểu người biết biến những điều tốt đẹp liên quan đến thẩm mỹ, đạo đức, kiến thức, thậm chí cuộc sống gia đình hay niềm vui hằng ngày… thành chuyện làm ăn tầm thường mà vẫn tin chắc họ là người rất hiểu biết, từng trải.

Chắc nhà văn Việt Nam Vũ Trọng Phụng là người biết vạch mặt tâm lý này khéo léo nhất. Trong Số đỏ, ông mỉa mai tường tận những người “bị yếm thế” trong xã hội Hà Nội giữa những năm 1930.

Ngay trang đầu ông giới thiệu nhân vật chính, Xuân Tóc Đỏ, rổn rảng về tình duyên với bạn gái trong khi “sấn sổ đưa tay ra toan cướp giật ái tình” (“Xin một tị! Một tị tỉ tì ti thôi!”).

Trong vài trang sau đến lượt hai nhân vật khác trò chuyện nghe như họ vẫn còn sống khỏe (và nói chuyện tiếp về thời trang) ở Việt Nam ngày nay:

“… – Bây giờ ai cũng phải cải cách y phục cho phù hợp thời trang. Cái lối trang điểm cổ làm cho người ta chóng già, ta phải thay đi mới được. Thưa bà, nếu bà không biết những thuật để giữ gìn sắc đẹp thì khó lòng mà giữ được hạnh phúc gia đình, vì các cô thiếu nữ ngày nay ăn mặc lối mới cả, thật là một sự cạnh tranh ghê gớm.

– Bà nói đúng quá! Các thiếu nữ bây giờ ăn mặc tợn hơn các me Tây khi xưa! Thật là tân thời, thật là đĩ thõa! Chao ôi! Họ cướp mất hạnh phúc của tôi, họ đẹp hơn tôi, họ quyến rũ ông Hàn nhà tôi, bây giờ tôi biết làm thế nào?

– Thưa bà, cái đó rất dễ… Bà chỉ việc… ăn vận như họ…

– Phải! Phải! Âu là tôi cũng ăn mặc tân thời! Mặc cho thiên hạ sẽ gọi tôi là con đĩ già! Chỉ tại bà, các bà, chủ hiệu thợ may, các bà đầu têu ra mà thôi!”.

Có thể nói đây là cuộc đối thoại giữa một người cynic nghiệp dư – bà khách hàng “đàn bà nạ dòng” chưa thích nghi với sự cạnh tranh về mặt tình dục đang len lỏi vào cuộc sống hôn nhân, và một kẻ cynic rất chuyên nghiệp – “bà Văn Minh”, người khơi dậy lý tưởng về đời sống hôn nhân hạnh phúc, cùng mẫu mực sắc đẹp tân tiến, nhằm mục đích buôn bán quần áo càng “ít vải” càng đắt tiền.

Để hiểu nhiều hơn cách suy nghĩ này (mà khó đặt tên tiếng Việt, dù nó dường như phát triển mạnh ở Việt Nam ngày nay), chúng ta phải quay lại với người Hi Lạp cổ một lần nữa – dân tộc cực kỳ sáng kiến trong việc tạo ra tư duy và phong cách sống mới.

“Chủ nghĩa yếm thế” vốn là tư tưởng của cả một trường phái triết học. Tên gọi bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “kynikos”, nghĩa là “giống con chó”. Tên gọi của chủ nghĩa này có một lịch sử hơi rắc rối. Triết gia “cynic” đầu tiên, Antisthenes (khoảng 445-365 trước Công nguyên), giảng dạy triết lý của ông ở vận động trường Cynorcarges (nghĩa là “chỗ của con chó trắng”) tại Athens.

Tuy nhiên, một lý do quan trọng khác là những người cynic Hi Lạp cổ sống lang thang ngoài đường và có xu hướng hay chỉ trích – hay dân dã hơn: “bạ đâu cũng cắn”.

Trong lịch sử phương Tây, họ nổi tiếng về sở thích phản cảm này và nó cũng là lý do họ giống thế hệ cynic hiện đại: những người nhìn hành vi của người khác dưới góc nhìn rất thực tế, thấy lý tưởng của người này giả dối, quy ước của người nọ vô lý, thời trang của người kia kệch cỡm mà không buồn che giấu sự kinh miệt.

Như một nhà văn đồng thời mô tả rất sinh động ông tổ trường phái Diogenes:

“Ông ta là độc nhất vô nhị trong việc dè bỉu đồng bào của mình. Ông ta chê bài giảng của Plato là hoài công, chê những buổi trình diễn trong lễ hội Dionysia là kiểu cảnh tượng rùm beng dành cho bọn ngu dốt, còn đám chính trị gia mị dân là tay sai của bọn lưu manh…

Ông ta nói là khi thấy các thầy bói giải mã giấc mơ, hoặc những kẻ hãnh diện khoe của cải với thiên hạ, thì ông ta nghĩ ngay con người là loài động vật lố bịch nhất. Ông ta còn nói là để con người cư xử đứng đắn thì hoặc là áp dụng lý trí, hoặc phải xài dây thừng để buộc cổ con người lại như con ngựa”.

Nhưng có sự khác nhau ngầm giữa Diogenes và những kẻ cynic hiện đại trong đoạn này, thể hiện qua chỉ một từ: lý trí.

Người cynic cổ điển có thể giống đối tượng châm biếm của Wilde và Vũ Trọng Phụng ở chỗ họ không nhắm mắt trước mọi hành động dại dột, không ngậm miệng trước những lời đại ngôn của kẻ khác, nhưng họ khác ở chỗ họ không nghĩ việc CÓ LÝ TƯỞNG là BẮT BUỘC PHẢI NHẮM MẮT và họ dứt khoát không sử dụng thái độ vỡ mộng của họ vì động cơ vụ lợi bản thân.

Có hai giá trị họ còn giữ nguyên, ngay cả trong cách ăn nói và hành động, là sự tự nhiên và (như đã nói) lý trí. Sống tự nhiên theo lời dạy của những người cynic cổ điển là chống lại những ràng buộc giả tạo của xã hội, miễn trừ của cải, gạt bỏ nghi thức, hình thức không cần thiết.

Diogenes nổi tiếng là người sống ngoài đường trong một cái thùng để chứng minh sự nhẫn nại thích nghi với cuộc sống tối giản, cùng sự khinh thường con người ham vật chất, thấy cách sống của con người đó quá nghèo hèn, cách ăn mặc của anh ta quá khó nhìn.

Còn sống theo lý trí là sống vượt qua ảnh hưởng của những ám ảnh và mê tín có khả năng chi phối cuộc sống con người. Cả Diogenes lẫn thầy giáo của ông Antisthenes đều quyết tâm cưỡng lại tính nhẹ dạ tôn giáo của thời đại họ sống.

Vì muốn thuyết phục Antisthenes tham gia một hội kín tôn giáo danh tiếng, thầy tu giáo phái đó đã bóng gió rằng người hiểu biết về nghi lễ hội kín sẽ hưởng thụ nhiều trong kiếp sau. Câu đáp của Antisthenes thật là ngắn gọn: “Vậy sao ông không chết ngay đi?”.

Chủ nghĩa chó cắn và cách đương đầu - Ảnh 2.

Ảnh: JUNIQUE

***

Suốt lịch sử đã xuất hiện một số người có tâm lý yếm thế và rõ ràng không phải các xu hướng cynical đều bao gồm sự ích kỷ, phiến diện và quyết tâm lừa bịp người khác mà Wilde và Vũ Trọng Phụng đã giễu cợt.

Thời đại Khai sáng ở châu Âu đã được khởi đầu bởi một số nhà văn biết phê phán các định chế xã hội dựa trên lý tưởng về lý trí vừa hài hước vừa phá cách. Hơn nữa, tư tưởng cynic theo nghĩa tích cực này không những là vũ khí của giới trí thức, mà còn xuất hiện dưới nhiều dạng dân gian.

Giả sử Antisthenes có nghe câu ca dao của người Việt “Hòn đá mà biết nói năng, thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn”, chắc ông sẽ cười cảm kích!

Cái đáng ngạc nhiên là chủ nghĩa cynic âm tính ngày nay có vẻ có sức hấp dẫn rất lớn, thậm chí đã trở thành bầu không khí xã hội nói chung. Chắc một nhà xã hội học giỏi có thể viết nguyên một cuốn sách khá dài về nguyên nhân của hiện tượng này.

Nhưng ai muốn nói chung về nguồn gốc của vấn đề thì không cần đến các nghiên cứu cặn kẽ.

Quá trình “giải thiêng” có tầm vóc lịch sử, và nhất là cách mà bản sắc văn hóa riêng biệt ở khắp mọi nơi đang tàn phai trong quá trình toàn cầu hóa, góp phần không nhỏ vào cách nhìn cho rằng lý tưởng, vốn toàn giả dối hay khoa trương, là loại hành lý quá cước người ta phải bỏ lại hay trả thêm tiền nếu cứ khăng khăng mang theo.

Việc tính cộng đồng cố kết là đặc trưng của một số lãnh thổ nhỏ – như các làng xã Việt Nam – mất dần là kết quả gần như không tránh khỏi của đô thị hóa, nếu không muốn nói là điều kiện cần thiết của sự phát triển xã hội. Khoa học và kỹ thuật, trong khi giúp ta cải thiện điều kiện sống một cách gần như kỳ diệu trong vòng hai thế kỷ gần đây, cũng đã làm ta phải từ bỏ nhiều ý tưởng về thế giới mà nếu không đúng theo nghĩa đen thì vẫn hay theo nghĩa bóng.

Trước hết, cái nhìn cynic ngày càng lan rộng liên quan đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường quy mô lớn. Nhiều người đánh giá người khác bằng thước đo đồng tiền, thành đạt vật chất, những điều họ mua và tiêu thụ được, với hậu quả là các giá trị khác có xu hướng mất dần ý nghĩa, thậm chí bắt đầu có gì đó lố lăng, nghịch lý.

Cái gây lúng túng nhất trong quá trình này chính là sự thịnh vượng về mặt kinh tế và xã hội tạo điều kiện cho thái độ yếm thế.

Có thể nói đó là sự thâm hụt về mặt tinh thần của chính thành công trong việc đáp ứng nhu cầu vật chất, cung cấp hàng hóa phong phú cho ngày càng nhiều người: những người nhìn cuộc đời với đôi mắt vỡ mộng – người tin rằng ai cũng có cái giá của họ, cũng mua được, và người nào có cách nhìn lạc quan hay tinh tế hơn thì cho rằng về bản chất, con người chỉ là những kẻ khờ khạo – có vẻ ngày càng thắng thế.

Quay lại với Vũ Trọng Phụng, mấy “bà Văn Minh”, và trước hết mấy học trò của bà ấy như Xuân Tóc Đỏ, ở đâu cũng gặp được và ở đâu cũng làm trò của họ, càng sắc sảo thì càng đáng chán.

Chủ nghĩa chó cắn và cách đương đầu - Ảnh 3.

Ảnh: The Gazelle

***

Cụ thể hơn thì cách nhìn cynical lộ rõ trên khía cạnh nào của đời sống con người ngày nay?

Có thể nói một loại chủ nghĩa yếm thế về mặt đạo đức thể hiện trong cách suy nghĩ cho rằng đạo đức là giả dối: quan điểm rằng tất cả mọi người đều chỉ muốn kiếm lợi cho bản thân, rằng xét về đạo đức không ai thực sự tốt hơn ai, hoặc nếu người dữ khác với người hiền thì sự khác nhau không ảnh hưởng đến cơ hội sống của họ.

Về mặt chính trị, chủ nghĩa yếm thế lộ rõ trong thái độ coi chính trường toàn là trò hề đáng ghét, thể hiện đặc biệt rõ ở một số nước như Úc, Mỹ trong vài thập niên gần đây. Nó là niềm tin rằng mục đích của các chính trị gia thông thường chỉ là nắm quyền, cũng có thể là làm tiền bằng cách sử dụng quyền lực một cách bất chính.

Một lĩnh vực khác là truyền thông, nơi mà nhiều người thấy không còn ranh giới nữa giữa thực và hư.

Chuyện truyền thông đại chúng và hàng loạt người trên mạng không còn phân biệt được tin thật với tin giả đã dẫn nhiều đất nước phát triển đến điều có thể coi là thái độ “yếm thế thông tin”: quan điểm cho rằng giới truyền thông không còn đáng tin vì “tin tức thời sự” đã trở thành một sản phẩm thương mại được soạn sửa, xuyên tạc và phát tán theo giá cả, chứ không phải giá trị, của nó.

Tiếp theo là giới kinh doanh. Ở đây tôi muốn đề cập đến những “tập quán thương mại” dựa trên quan điểm rằng khi kinh doanh, việc lừa dối khách là không tránh khỏi, hay niềm tin rằng việc mở rộng phạm vi hoạt động bất kể hậu quả lâu dài là phương tiện biện minh cho mục đích tối cao cần thiết: lợi nhuận.

Trong ngành du lịch, thái độ yếm thế thể hiện trong cách đẩy môi trường còn hoang sơ, nguyên vẹn mà chính mình đang khai thác tới chỗ tận diệt. Hoặc lấy ví dụ “đời thường” hơn: thái độ “yếm thế” thể hiện trong chiến lược kinh doanh của những quán xá đông khách vì bán đồ ngon, sau đó hét giá và giảm chất lượng để hưởng lời lớn hơn từ danh tiếng mà quán không còn xứng đáng.

Còn một khía cạnh khác của thái độ yếm thế rất tiêu cực, gần như trái ngược với chủ nghĩa yếm thế vốn rất hăm hở của các triết gia Hi Lạp cổ, lộ rõ ở nền giáo dục Việt Nam. Những lớp học và bài thi mệt nhoài đi đôi với quan điểm phổ biến là nội dung chương trình học không quan trọng, không cung cấp cho học trò kiến thức hữu ích.

Kinh nghiệm cay đắng với một nền giáo dục bắt học trò học thuộc lòng đủ thứ mà không cần hiểu nguyên nhân, chứ đừng nói là có kỹ năng giải quyết vấn đề thực tế, dẫn đến cảm giác yếm thế là bằng cấp nhận từ nhà trường Việt Nam chỉ có nghĩa về mặt hình thức, là thứ công cụ giúp kiếm công ăn việc làm lương cao hơn kẻ khác, thành thử việc gian lận trong phòng thi hoặc mua bằng ở hậu trường cũng là cách đối phó hợp lý.

Rút lại, khi đương đầu với kiểu Xuân Tóc Đỏ đương đại, rổn rảng về lý tưởng tình yêu nhưng lại chìa tay ra “xin một tị tỉ tì ti”, có lẽ có hai cách giải quyết. Thứ nhất là phương án của những người cynic Hi Lạp cổ, đáp lại cay độc: cắn vào bàn tay của kẻ có ý đồ vô duyên đấy.

Phương án thứ hai là cách của đích thân Wilde và Vũ Trọng Phụng: nói đúng sự thật về kẻ yếm thế, cho rằng việc nói đúng sự thật là lý tưởng đáng giữ vững, nhưng đồng thời nói ra nó với tiếng cười của những nhà văn trào phúng bậc thầy.

Trò đời: Vũ Trọng Phụng vừa được làm mớiTrò đời: Vũ Trọng Phụng vừa được làm mới

TT – Trò đời – bộ phim được biên kịch kỳ cựu Trịnh Thanh Nhã xây dựng từ ba tác phẩm Số đỏ, Kỹ nghệ lấy Tây và Cơm thầy cơm cô của “ông vua phóng sự đất Bắc kỳ” – vừa chính thức lên sóng VTV1 từ tối 9-8-2013.

,
Xem Thêm: Giáo dục, Du Lịch, Du Học, Chủ nghĩa chó cắn và cách đương đầu

Sưu Tầm: https://tuoitre.vn/chu-nghia-cho-can-va-cach-duong-dau-2019010314530496.htm